logo
0

Theo một nghiên cứu mới của Grand View Research, nhu cầu nhựa toàn cầu dự kiến ​​sẽ đạt 334,83 ​​triệu tấn vào năm 2020, chiếm 654,38 tỷ USD trên thị trường . Inc[1]. Tính đến năm 2013, nhu cầu nhựa toàn cầu là 233,75 triệu, do đó tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) sẽ là 5,3% từ năm 2014 đến năm 2020. Nếu bạn đã xem trang web này, bạn biết rằng vật liệu nhựa có nhiều lợi thế so với kim loại và các vật liệu khác như trọng lượng nhẹ, dễ gia công, tiết kiệm chi phí hơn và hơn thế nữa. Không có nghi ngờ gì về việc thị trường nhựa sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai. Nhưng có những lo ngại về tính bền vững tiềm ẩn đằng sau thị trường đầy hứa hẹn này. Một lo lắng chính là tái chế; mọi người đã nhận ra rằng nhựa có thể tồn tại trong môi trường hàng trăm năm và sẽ gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng nếu không được xử lý thích hợp. Bên cạnh đó, việc sử dụng một lượng rất lớn dung môi trong ngành nhựa cũng là một vấn đề khác mà công chúng ít được biết đến.

Thuật ngữ "dung môi" được áp dụng cho một số lượng lớn các chất khác nhau. Chúng được định nghĩa là "chất hòa tan các chất khác để tạo thành dung dịch." Dung môi đã được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp nhựa từ quá trình tổng hợp nguyên liệu thô đến việc sử dụng cuối cùng của sản phẩm. Ví dụ, trùng hợp dung dịch là một kỹ thuật được sử dụng rộng rãi để sản xuất nhựa thô, sử dụng dung môi làm môi trường phản ứng hóa học. Một nguồn độc hại đáng kể trong các sản phẩm polyme xảy ra khi dung môi được sử dụng làm chất pha loãng hoặc để cho phép ứng dụng của polyme (ví dụ, làm sơn hoặc chất kết dính). Tuy nhiên, những ứng dụng này làm cho việc sử dụng các dung môi độc hại trở thành mối quan tâm không thể tránh khỏi khi chúng ta sử dụng các sản phẩm nhựa. Theo Zion Market Research [2], thị trường dung môi toàn cầu được định giá 26,80 tỷ USD vào năm 2016 và dự kiến ​​sẽ đạt 33,0 tỷ USD vào năm 2022, tăng trưởng với tốc độ CAGR là 4,0% trong giai đoạn 2017-2022.

Hình 1. nhu cầu dung môi theo sản phẩm, 2015
Hình 1. nhu cầu dung môi theo sản phẩm, 2015

Như thể hiện trong Hình 1 [3], Ở Mỹ, các rượu như etanol, n-butanol, isopropanol và metanol là những dung môi chính được sử dụng, tiếp theo là hydrocacbon, glycol, xeton và những loại khác. Trong số tất cả các mục đích sử dụng cuối cùng, sơn và chất phủ chiếm khoảng 46% tổng lượng sử dụng (xem Hình 2 [4]). Hầu hết các loại sơn và chất phủ đều là nhũ tương polyme, cần sử dụng dung môi hữu cơ. Sự phát triển trong ngành xây dựng và ô tô cũng kéo theo nhu cầu về sơn và chất phủ ngày càng tăng. Các ứng dụng khác cho dung môi bao gồm dược phẩm, chất kết dính, mực in, chăm sóc nhà cửa, chế biến hóa chất, kim loại và nông nghiệp (một số mẫu được đưa ra trong Hình 3).

Hình 2: Sử dụng cuối cùng của dung môi
Hình 2: Sử dụng cuối cùng của dung môi

Hình 3: Ứng dụng sử dụng dung môi: Sơn (5)
Hình 3: Ứng dụng sử dụng dung môi: Sơn (5)

Hình 3: Ứng dụng sử dụng dung môi: Chất kết dính (6)
Hình 3: Ứng dụng sử dụng dung môi: Chất kết dính (6)

Hình 3: Ứng dụng sử dụng dung môi: Dược phẩm (7)
Hình 3: Ứng dụng sử dụng dung môi: Dược phẩm (7)

Trong quá trình sản xuất và sử dụng luôn tiềm ẩn những nguy cơ như cháy, nổ, xói mòn và quan trọng nhất là tác hại đến cơ thể con người. Hàng triệu người tiếp xúc với dung môi và các nguy cơ sức khỏe liên quan đến việc tiếp xúc với dung môi bao gồm độc tính đối với hệ thần kinh, tổn thương sinh sản, tổn thương gan và thận, suy hô hấp, ung thư [8]. Dung môi cũng như các chất phụ gia hóa học khác có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng cách hít thở, tiếp xúc qua da hoặc mắt và nuốt. Tác động của dung môi có thể cấp tính và mãn tính. Do khó nhận biết rất nhiều loại dung môi, các ký hiệu đã được phát triển một cách hệ thống để chỉ ra các mối nguy hiểm (xem Hình 4 [9]). Ví dụ, etanol, một trong những dung môi được sử dụng phổ biến nhất, được dán nhãn là 3 màu đỏ, 2 màu xanh lam và 0 màu vàng, cho biết đó là điểm chớp cháy (nhiệt độ dẫn đến hơi đánh lửa ) dưới 100F, thiệt hại vừa phải cho sức khỏe và nó ổn định. Nhiều trang web có cơ sở dữ liệu để tra cứu các mối nguy hiểm của dung môi và các yêu cầu khi làm việc với chúng. Ví dụ, từ các chất nguy hiểm cao hơn [10], các hóa chất gây ra các mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sức khỏe và môi trường được liệt kê, đồng thời, đạo luật kiểm soát các chất độc hại [11] và hệ thống thông tin rủi ro tích hợp [12] có thể được sử dụng để tra cứu những dung môi và phụ gia nguy hiểm cao.

Hình 4: Biểu tượng cảnh báo vật liệu độc hại (9)
Hình 4: Biểu tượng cảnh báo vật liệu độc hại (9)

Có một số chiến lược để khắc phục những hạn chế của việc sử dụng dung môi độc hại. Một trong số đó là phát triển hệ thống nhũ tương gốc nước. Sơn được cấu tạo chủ yếu từ ba vật liệu: nhựa, tạo thành một lớp phủ với các chất màu cung cấp màu sắc và độ bóng như các thành phần trong lớp phủ, và các chất phụ trợ dung môi, là các thành phần dễ bay hơi không tạo thành một phần của lớp phủ, được bao gồm làm mỏng vật liệu và giúp chúng bao phủ trơn tru hơn. Sử dụng hệ thống

Đăng ký nhận tin khuyến mãi
Copyright © 2021 - inbaobinhua.org All Rights Reserved.